BÀI MỚI NHẤT
10 Tháng Giêng 2026(Xem: 831)
“Hà Nội, Người với Phố phường của một thời”, biên khảo mới nhứt của Đỗ Hoàng Ý (tháng 11-2025), nhắc qua “Hà Nội 36 phố phường” và tỉ mỉ giới thiệu: “… một con đường cổ, quả thật rất cổ, không biết đã có tự bao giờ, ít khi được nhắc đến chỉ vì đường này không nằm trong khu 36 phố phường, và hiển nhiên không phải là một phố nghề mà cũng chẳng chuyên buôn bán một mặt hàng thủ công cổ truyền nào. Đấy là đường Quán Thánh.” Tác giả cũng đã dành nhiều trang để giới thiệu các bộ sưu tập ảnh nổi tiếng về Hà Nội xưa. Và càng lý thú hơn nữa khi tác giả đã xử dụng kỹ thuật A.I để biến hình cũ thành hình màu…
01 Tháng Tư 2025(Xem: 2465)
Vào lúc 11 giớ sáng Chủ nhựt 30 tháng 3 năm 2025 phòng sinh hoạt của Thư Viện Việt Nam góc đường Westminster và Euclid đã không còn chỗ trống. Trên 250 quan khách và đồng hương đã đến đây - như thông lệ hàng năm - để nhận 1 cuốn sách bằng tiếng Anh có nội dung độc đáo: Viết về lịch sử hình thành Little Saigon. Cuốn sách dày 310 trang, ghi lại diễn tiến từ 1975 đến 2024 tất cả những sinh hoạt liên quan đến sự hình thành của Little Saigon. Tác giả là 2 nhà báo sống tại Little Saigon ngay từ lúc khởi đầu, đã sưu tập tài liệu và nhất là hình ảnh để đưa vào tác phẩm. Trong buổi ra mắt sách, tác giả công phu mời các nhân vật làm business hay sinh hoạt tại Little Saigon từ lúc khởi đầu đền trực tiếp nói chuyện với quan khách...
25 Tháng Ba 2025(Xem: 2559)
Nạn đói năm Ất Dậu 1945 để lại những nỗi đau đớn tột độ cho những người sống sót và ấn tượng kinh hoàng cho những người đã chứng kiến. Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam lại xảy ra một biến cố thảm thương như thế.Hoàn cảnh và những nguyên nhân nào đã đưa đến nạn đói năm Ất Dậu? Mời độc giả tìm đọc trong bài viết này với nhiều chi tiết gây xúc động mạnh mặc dù sự việc đã xảy ra 80 năm trước đây.
12 Tháng Giêng 2025(Xem: 7508)
In the final days of May, 1975, it was a time of book persecution for the people of South Vietnam. As soon as the Communists seized Saigon, they hastily ordered the confiscation of all South Vietnamese books and newspapers, which they labeled as "decadent and reactionary culture."
12 Tháng Hai 2024(Xem: 2934)
Những sách Giáo khoa do nhiều tác giả biên soạn theo đúng chương trình giáo dục của Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa này được đồng bào tị nạn Việt Nam mang theo sau biến cố tan nhà nát cửa mất cả giang sơn 30 tháng 4 năm 1975 và tặng cho Thư Viện Việt Nam Little Saigon cất giữ. Ngoài số sá ch này, trang lovelittlesaigon.org của Thư Viện Việt Nam còn xử dụng các bản quét (scan) của Giáo sư HUỲNH CHIẾU ĐẲNG, chủ quán SÁCH VEN ĐƯỜNG và một số nguồn cùng mục tiêu khác. Chúng tôi vẫn tiếp tục nhận sách của Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa để đưa lên website phổ biến và lưu giữ.
18 Tháng Giêng 2024(Xem: 4085)
Đài VNATV thực hiện 2 videos về buổi lễ tưởng niệm Nhà văn, Nhà báo, Nhà giáo Trần Lam Giang tại Phòng Sinh Hoạt Thư Viện Việt Nam Little Saigon (Vietnamese Cultural Center - VHV Foundation), 10872 Westminster Avenue, Suites 214 & 215, Garden Grove, California 92843. Tổ chức trong nội bộ và một số bạn học cùng thời với người quá cố.
12 Tháng Giêng 2024(Xem: 2706)
Trong cuộc nội chiến, hai kẻ địch văn hóa là : - Văn hóa cổ truyền hay văn hóa Sài Gòn thì mọi người dân Việt ở hải ngoại hay quốc nội đều hay biết vì hiện đang sống với , - Văn hóa XHCN thì ở miền Nam ít người biết đến vì 2 lý do sau : 1) Cuộc sống ngắn ngủi 10 năm (1975-1986) của văn hóa XHCN tại miền Nam, 2) Hầu như không có tác giả nào cả quốc gia lẫn cộng sản viết về văn hóa XHCN và cuộc nội chiến văn hóa Bắc Nam. Đó là lý do chúng tôi dành phần 1 và phần 2 cho văn hóa XHCN và phần 3 cho cuộc nội chiến văn hóa.
12 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 3256)
Tác giả ghi trong phần « Tự Luận về Bản In tại hải ngoại » : « Ba mươi năm chiến tranh (1945-1975), một cuộc chiến mà người Việt hầu như đóng vai « được mướn » để đánh lẫn nhau, là ba mươi năm tàn phá triệt để như thể một cuộc đổi đời. Ba mươi năm chiến tranh đã qua. Hơn mười năm cuồng say chiến thắng kéo theo hận thù, tù đày, cũng đã qua. « Thua » hay « Thắng » thì cả hai đều tỉnh giấc trước điêu tàn của đất nước. Một thời kỳ đại loạn chưa từng thấy trong lịch sử của dân tộc Việt. Đại loan cho đời sống vật chất. Vô cùng quan trọng nữa là đại loạn cho nếp sống tinh thần, nền móng của tổ chức xã hội. Hậu quả là trước mắt chúng ta hình ảnh một xã hội bị phân hóa và băng hoại cực độ, khiến cho đại chúng không có được một niềm tin để sống, để hành động trong tinh thần hướng thượng với ý thức giúp vào phúc lợi lâu dài của dân tộc… »
04 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 2066)
Những sách Giáo khoa do nhiều tác giả biên soạn theo đúng chương trình giáo dục của Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa này được đồng bào tị nạn Việt Nam mang theo sau biến cố tan nhà nát cửa mất cả giang sơn 30 tháng 4 năm 1975 và tặng cho Thư Viện Việt Nam Little Saigon cất giữ. Ngoài số sá ch này, trang lovelittlesaigon.org của Thư Viện Việt Nam còn xử dụng các bản quét (scan) của Giáo sư HUỲNH CHIẾU ĐẲNG, chủ quán SÁCH VEN ĐƯỜNG và một số nguồn cùng mục tiêu khác. Chúng tôi vẫn tiếp tục nhận sách của Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa để đưa lên website phổ biến và lưu giữ.
28 Tháng Mười Một 2023(Xem: 2414)
“Năm Quý Mùi (1943) là năm trăng mờ gió thảm, tiếng chiến tranh inh ỏi khắp hoàn cầu, toàn xứ Đông Dương bị quân Nhật Bản tràn vào, họa chiến tranh mỗi ngày một lan rộng. Dân Việt Nam bị đói kém đau khổ đủ mọi đường, lại căm tức về nỗi nước nhà suy nhược phải bị đè nén dưới cuộc bảo hộ trong sáu bẩy mươi năm, cho nên ai cũng muốn nhân cơ hội ấy mà gây lại nền độc lập đã mong mỏi từ bao lâu. Tôi là một người nước Việt Nam, lẽ nào lòng tôi lại không rung động theo với dịp rung động của những người ái quốc trong nước? Nhưng vì hoàn cảnh khó khăn, lòng người ly tán, nhiều người lại muốn lợi dụng cái tiếng ái quốc để làm cái mối tư lợi cho mình, vì vậy mà tôi chán nản không dự vào đảng phái nào cả, mà cũng không hành động về phương diện chính trị. Ngoài những lúc làm những công việc hàng ngày phải làm, khi rỗi rãi gặp những bạn thân, nói đến chuyện thiên hạ sự và việc nuớc nhà, thì tôi cũng nói chuyện phiếm và mong cho nước nhà chóng được giải phóng…”

CON KHỈ TỀ THIÊN

31 Tháng Giêng 20242:17 CH(Xem: 6594)
con khi 1
CON KHỈ TỀ THIÊN
CHÁNH PHƯƠNG
(Một bút hiệu khác của Nhà văn NGUYỄN ĐỨC LẬP)



“Tề thiên” là bằng với ông Trời, hay ngang hàng với ông Trời.

Con khỉ Tề Thiên nầy là Mỹ Hầu Vương, là Tôn Ngộ Không, là Tôn Hành Giả, từng xưng là Tề Thiên Đại Thánh và khi thành chánh quả là Đấu Chiến Thắng Phật, trong truyện Tây Du Ký...

Tây Du Ký là một bộ truyện Tàu nổi tiếng, do Ngô Thừa Ân (sanh vào đời Minh Gia Tĩnh, chết vào thời Minh Vạn Lịch, cách nay trên dưới 500 năm) sáng tác, lấy bối cảnh là chuyện nhà sư Trần Huyền Trang đời nhà Đường lặn lội qua Ấn Độ để học hỏi, nghiên cứu giáo lý nhà Phật và 17 năm sau mới trở về nước, mang theo 600 bộ kinh Phật thỉnh từ Ấn Độ.

Nhà sư Trần Huyền Trang lặn lội qua Ấn Độ thỉnh kinh là chuyện có thật. Ông vượt qua sa mạc Gobi, năm ngày bốn đêm không có một giọt nước nhểu vào miệng. Ông vượt núi Thông Lãnh đầy tuyết phủ, cao 7.200 mét của rặng Thiên Sơn. Từ Tàu, ông qua Tân Cương, rồi đi ngược lên hướng Tây Bắc, qua một số nước thuộc Liên bang Sô viết sau nầy, rồi đi vòng xuống một số nước khác thuộc A-phú-hãn, vòng qua phía nam Hy-mã Lạp-sơn (Tàu gọi là Đại Tuyết Sơn), rồi mới đến được vùng Tây Bắc Ấn Độ. Trên đường đi, có lần ông ông suýt bị ăn cướp giết...

Tất cả những sự kiện kể trên về chuyến đi của nhà sư Huyền Trang là chuyện hoàn toàn có thật.

Khi vào truyện Tây Du Ký, Trần Huyền Trang trở thành Tam Tạng và không đi thỉnh kinh một mình, mà được theo phò bởi ba người đệ tử: Tôn Hành Giả là cốt khỉ; Trư Ngộ Năng, còn gọi là Bát Giái, tướng heo, nguyên là Nguyên Bồng Nguyên Soái ở thượng giới bị đọa; Sa Ngộ Tịnh, còn gọi là Sa Tăng, tướng quỉ, nguyên là Quyện Liêm Tướng Quân trên trời, phạm tội bị đày. Ngay cả con bạch mã đỡ chân cho Tam Tạng cũng là con rồng bạch, Thái tử, con của Đông Hải Long Vương Ngao Thuận, hóa hình...

Đọc truyện Tàu, dù là dã sử như Phong Thần, Thuyết Đường, Chinh Đông, Chinh Tây, Phi Long, Bình Tây, Bình Nam..., hay là kiếm hiệp (gọi là truyện chưởng) như Bạch Mã Khiếu Tây Phong, Hỏa Thiêu Hồng Liên Tự, Anh Hùng Xạ Điêu, Thần Điêu Đại Hiệp v.v.., dù có tác giả hay không có tác giả, mà đem đầu óc khoa học ra bàn, rồi đòi hỏi sự hợp lý, thì thà là đừng đọc.

Truyện Tàu sở dĩ được ưa chuộng, lưu truyền rộng rãi, từ đời nầy sang đời khác, là nhờ ở những ý nghĩa thâm thúy, sâu xa lồng trong những sự kiện bất chấp khoa học. Đem con mắt khoa học ra luận truyện Tàu, đòi hỏi sự hợp lý, mà bỏ quên những ý nghĩa thâm thúy, thì thiệt là lãng quẻ. Bởi vậy mới nói là thà đừng đọc còn hơn...

Vả chăng, chuyện hợp lý và bất hợp lý biết nói sao cho cùng. Hoa Kỳ vẫn tự hào với một nền khoa học tối tân, nhưng các phim ảnh sản xuất ở Mỹ, nhất là những phim bạo động, phim giả tưởng, vẫn có nhiều màn không hợp lý chút nào hết, mà khán giả vẫn thích thú theo dõi vậy...

con khi 2

Trở lại chuyện con khỉ Tề Thiên...

Theo Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân, vào thời Bàn Cổ sơ khai, thế giới chia ra làm bốn châu lớn:

- Đông Thắng thần châu.

- Tây Ngưu hạ châu.

- Nam Thiện bộ châu.

- Bắc Câu lư châu.

Bấy giờ, ở cõi Đông Thắng thần châu, có một nước tên là Ngao Lai quốc. Ngoài biển của nước nầy có một hòn đảo, trên ấy có một núi lớn, tư mùa xanh tươi, cây trái sum suê, tên là Huê Quả Sơn.

Trên Huê Quả Sơn, có một hòn đá nằm trơ vơ, hấp thụ khí âm dương của trời đất qua mặt trời, mặt trăng không biết bao nhiêu vạn năm. Hòn đá nầy hoài thai và sanh ra một cái trứng đá. Trứng đá lại tiếp tục thụ khí âm dương của trời đất mà nở ra một con khỉ đá. Con khỉ nầy thông minh, lanh lợi, can đảm, khám phá ra Thủy Liêm động, nên được các con khỉ khác tôn lên làm vua, xưng là Mỹ Hầu Vương (khỉ chúa đẹp đẽ).

Mỹ Hầu Vương chiếm cứ Thủy Liêm động làm sào huyệt, ngày ngày ngồi trên thạch bàn, chờ bầy khỉ nhỏ hái trái về dâng.

Sống vô sự như vậy lâu ngày đâm chán, lại thêm thấy đời sống vô thường ngắn ngủi, Mỹ Hầu Vương từ giã bầy khỉ con, đóng bè vượt biển, đi tầm sư học đạo, mong được trường sanh bất tử...

Mỹ Hầu Vương đi mãi, sau cùng tìm được sư phụ là tổ sư Bồ Đề và được sư phụ dạy cho 72 phép thần thông và môn “cân đẩu vân”, nhảy một cái tới mười muôn tám ngàn dặm.

Mỹ Hầu Vương được tổ sư Bồ Đề đặt tên cho là Tôn Ngộ Không và bắt thề độc không được tiết lộ tên sư phụ...

Đó, gốc tích của con khỉ Tề Thiên là như vậy đó. Đã nói rồi, đừng lấy con mắt khoa học mà luận rằng chuyện đúng hay sai. Vả chăng, có sinh vật nào sanh ra lại không do hai khí âm, dương phối hợp mà thành...

Ông tổ sư Bồ Đề thiệt là cao kiến và phòng xa rất mực. Làm ông thầy, sướng nhất là dạy được thằng học trò chăm chỉ, thông minh, lanh lợi. Nhưng, gặp thằng như vậy mà cốt khỉ, tốt nhứt là phải bắt nó thề độc không được tiết lộ danh tánh của sư phụ. Kẻo không, khi cái tánh khỉ khọn của nó nổi lên, nó phá làng phá xóm, hay nó làm giặc, sẽ mắc họa liên can...

Tôn Ngộ Không là khỉ mặc dầu, nhưng đã thề là giữ lời hứa, trọn đời, cho đến khi thành chánh quả, không cho ai biết tên tuổi của ông thầy. Nhiều kẻ, mặt cũng người, mà cốt người, nhưng mới mở miệng thề bán mạng đó, quay lưng nháy mắt một cái, đã phản bội lời thề rồi, thiệt nhắm ra không bằng con khỉ...

Thành tài rồi, Tôn Ngộ Không trở về Thủy Liêm động. Hồi đi, phải mất mười năm mới tìm được thầy. Hồi về, chỉ cần nhảy một cái, cân đẩu vân, tai nghe gió thổi vù vù, thoáng chốc đã đứng trước cửa động. Tôn Ngộ Không biểu diễn tài nghệ một hồi, bầy khỉ nhỏ phục lăn sát đất.

Thế rồi, Tôn Ngộ Không bắt đầu phá làng phá xóm, xuống tận long cung đòi nạp binh khí. Bốn vị Long vương cai quản bốn biển đưa ra đủ loại binh khí, nhưng món nào, Ngộ Không cũng cảm thấy không xứng tay. Sau cùng Long vương mới dắt Ngộ Không ra giữa rún biển, chỉ cây cột sắt, nặng một vạn ba ngàn năm trăm cân, dằn ở đó cho khỏi ba đào sóng dậy. Cây nầy gọi là “Như ý kim cô bổng”, muốn biến lớn biến nhỏ tùy ý (Ngộ Không từng biến nhỏ bằng cây kim, dắt ở lỗ tai).

Có cây thiết bảng vừa tay rồi, Ngộ Không lại đòi khôi giáp. Báo hại bốn vị Long vương mỗi người phải nạp một món, mới đủ một bộ khôi giáp cho Ngộ Không.

Trở về Thủy Liêm động, Ngộ Không cầm thiết bảng, rùng mình một cái, biến thành “mình cao trăm trượng, lưng lớn mười vừng”, khiến cho các ma vương, chúa động ở khắp nơi, như Ngưu Ma vương, Độc Giác quỉ đều sợ hãi, đều tôn Ngộ Không lên làm chúa.

Ngộ Không còn xuống náo loạn âm phủ, ăn hiếp Thập điện Diêm vương, bôi tên hết loài khỉ vượn trong sổ tử, nhờ vậy mà loài nầy không bao giờ chết...

Phá làng phá xóm như vậy, Tôn Ngộ Không bị Tứ Hải Long vương và Thập điện Diêm vương làm đơn tố cáo lên tới Thiên đình...

Ngọc Hoàng Thượng Đế họp hết trào đình, tính hưng binh vấn tội, bắt con khỉ ngang tàng về trừng trị. Nhưng, Thái Bạch Kim Tinh bước ra can ngăn, khuyên nên chiêu hàng trước, nếu không xong sẽ động binh không muộn. Cái nầy kêu bằng “tiên lễ, hậu binh”, vẫn thường được áp dụng ở các nước Á đông...

Thái Bạch Kim Tinh được cử làm sứ giả chiêu hàng và ông đã thành công. Tôn Ngộ Không chịu lên Trời, nhận chức Bật Mã Ôn do Ngọc Hoàng ban cho.

Vốn là thứ ở rừng mà, đâu có biết quan chức của thiên đình sắp đặt ra sao, Tôn Ngộ Không tưởng Bật Mã Ôn là chức to lắm. Ai dè, đó là chức giữ ngựa, ngựa mập ngựa khỏe thì được khen, ngựa bịnh ngựa ốm thì bị chửi, bị phạt. Tới chừng biết được, Tôn Ngộ Không nổi giận bỏ về Thủy Liêm động, tiếp tục xưng vương. Rồi bọn quân sư xúi khôn xúi dại, Tôn Ngộ Không dựng cờ, xưng là “Tề Thiên Đại Thánh” (Ông thánh lớn ngang bằng với Trời).

Tới lúc khỉ già làm giặc rồi đây!

Nhịn không được nữa, Ngọc Hoàng sai thiên binh thiên tướng, nào là Tứ Đại Thiên vương, nào là thần Lục Đinh, Lục Giáp, nào là Na Tra Thái Tử, tay cầm càn khôn quyện, lưng thắt Khổn Thiên Lăng, chân cởi Phong Hỏa Luân... xuống trần tiểu trừ.
con khỉ 3

Có lẽ binh Trời, tướng Trời, bấy lâu vô sự, nên binh giáp đằng đằng, cờ quạt phất phới, mà làm không lại con khỉ thần thông...

Cuối cùng, Ngọc Hoàng lại phải nghe lời Thái Bạch Kim Tinh, chiêu hàng, chịu phong cho Tôn Ngộ Không làm Tề Thiên Đại Thánh, cấp phủ điện trên thiên đình cho Ngộ Không ở.

Nhưng, như vậy cũng đâu đã yên. Bởi Ngộ Không tánh khỉ không chừa, ở không sanh chán, làm loạn thiên đình, nào là ăn lén hết cả vườn đào của bà Tây Vương Mẫu, lại đột nhập đại hội Bàn Đào do bà tổ chức, ăn uống phá hoại tan tành, rồi qua cung Đâu Xuất của ông Thái Thượng Lão Quân, uống trộm hết cả bầu thuốc kim đơn trường sanh bất tử của ông nầy nữa, rồi lại bỏ về Thủy Liêm động...

Lần nầy thì chiến tranh lớn...

Thiên đình phải viện tới Nhị Lang Hiển Thánh Dương Tiễn xuất trận. Dương Tiễn cũng bảy mươi hai phép thần thông, lại thêm có con Hạo Thiên Khuyển là chó thần trợ lực, Tề Thiên đánh không lại. Tề Thiên hóa ra con gì cũng bị Dương Tiễn hóa ra một con khắc kỵ, tấn công liên tục. Sau cùng, Tề Thiên nhào xuống đất, biến thành cái miếu Thổ Địa. Ngặt một điều, còn kẹt cái đuôi, không dấu được, Tề Thiên phải biến nó thành cây cột cờ, cắm phía sau miếu.

Rượt tới đó, thấy cái miếu, Dương Tiễn cười ngất, bởi cột cờ thì cắm phía trước, chớ ai mà cắm phía sau bao giờ. Đây là, cốt khỉ, không trước thì sau, cũng phải loài đuôi khỉ mà thôi.

Rốt cuộc, Tề Thiên phải hiện nguyên hình, đánh tiếp với Dương Tiễn. Thái Thượng Lão Quân đứng trên mây, trợ lực cho Dương Tiễn, dùng chiếc vòng đeo tay của ông, gọi là Kim Cang Trào, ném trúng Tề Thiên, khiến khỉ già té nhào. Con Hạo Thiên Khuyển nhào vô cắn, Tề Thiên đành thúc thủ chịu trói.

Cái nầy kêu bằng khỉ té xuống đất, bị chó cắn phải thua...

Tề Thiên bị đem về thiên đình, hành hình. Nhưng, búa thiên lôi bổ vô đầu thì mẻ búa. Gươm trảm yêu chém vô cổ thì mẻ gươm, không cách gì giết được. Sau cùng, Thái Thượng Lão Quân đem Tề Thiên nhốt vô lò Bát Quái, nói rằng chỉ cần đốt lò đủ 49 ngày, xương thịt Tề Thiên sẽ tiêu thành tro.

Lò Bát Quái có tám cửa. Cửa hướng Tốn có gió mà không có lửa. Tề Thiên chun vô cửa nầy mà trốn, bị khói xông, hai tròng mắt trở nên vàng khè...

Đúng 49 ngày, Thái Thượng Lão Quân mở lò, Tề Thiên chẳng những không chết, mà còn phóng ra, hóa thành ba đầu sáu tay đại náo thiên cung, đánh binh tướng nhà Trời tan nát, phá thiên đình tanh banh. Sau, Ngọc Hoàng phải viện tới Phật Tổ Như Lai, mới đè được Tề Thiên dưới Ngũ Hành Sơn.

Phật tổ dán một lá bùa trên núi để Tề Thiên không còn cựa quậy gì được...

Nhân dịp Kim Thiền Trưởng Lão đầu thai làm Trần Huyền Trang, nhà Đại Đường, tức là Tam Tạng, Tây du thỉnh kinh, Quán Thế Âm Bồ Tát tìm người bảo hộ...

(Quán Thế Âm Bồ Tát, trong kinh Phật nguyên thủy của Ấn Độ là một nam nhân, đã nguyện vĩnh viễn không thành Phật, chỉ là Bồ Tát dưới trần, nghe lời cầu xin của chúng sanh, đến mà cứu khổ cứu nạn. Bởi vậy mới có câu “tầm thinh cứu khổ”. Sang đến Đông phương, Quán Thế Âm Bồ Tát mang hình tượng phụ nữ. Bởi vì người Tàu quan niệm rằng chỉ có người phụ nữ mới có được lòng dạ thương người rộng rãi như vậy. Thằng ăn cướp bị rượt nà, kêu cứu thì Bồ Tát cũng cứu; người lính đuổi phía sau, mệt lè lưỡi, kêu cứu, Bồ Tát cũng cứu. Người Tàu cho rằng chỉ có người phụ nữ mới có lòng dạ thương người như vậy thôi...)

Bồ Tát ghé ngang Ngũ Hành Sơn, dặn Tề Thiên, nếu Tam Tạng đi ngang, nhờ Tam Tạng gỡ lá bùa, và phải theo phò Tam Tạng thỉnh kinh...

Bồ Tát còn cho Tam Tạng một cái vòng, gọi là Như Ý Kim Cô, gạt cho Tề Thiên đội lên đầu. Vòng sẽ dính chặt vào da đầu. Mỗi khi Tam Tạng đọc chú “cẩn cô” thì vòng siết chặt, nhức đầu chịu không nổi, và niệm chú “tòng cô” thì vòng dãn ra. Có như vậy mới trị được con khỉ ngang tàng mà tài nghệ khó người đương được...

Tề Thiên, theo Tam Tạng, được gọi là Tôn Hành Giả, cùng với Bát Giái, Sa Tăng, phò thầy sang tận Thiên Trúc. Trên đường đi, Hành Giả trừ yêu, phục quỉ, gian nan trăm trận, giúp cho chuyến thỉnh kinh của thầy thành công...

Cuối cùng thì Tề Thiên thành chánh quả, được phong làm “Đấu Chiến Thắng Phật”.

*
*  *

Ngô Thừa Ân là nhà Nho, học Nho nổi tiếng thần đồng, nhưng rõ ràng bộ Tây Du Ký chịu ảnh hưởng rất nhiều của Phật giáo...

Tam Tạng tượng trưng cho lòng vô úy, lòng kiên trì, đức tin mãnh liệt của người tu sĩ Phật giáo.

Tề Thiên tượng trưng cho lý trí, tài năng.

Bát Giái tượng trưng cho dục vọng trong mỗi con người.

Sa Tăng tượng trưng cho cái tánh cần cù, an phận...

Tất cả bốn nhân vật ấy, gom lại, thật ra, chỉ là một con người. Một con người, có lúc thiện, có lúc ác, có lúc tràn đầy dục vọng, có lúc an phận thủ thường...

Con khỉ Tề Thiên chỉ là một trong những bản chất của con người. Lý trí cần lắm, nhưng có khi cái trí làm hại cái tâm. Tài năng cũng cần, nhưng có tài mà cậy tài thì dễ sa chân lỡ bước. Vả chăng, tài nhiều khi không bước qua khỏi mệnh...

Ngô Thừa Ân học giỏi nổi tiếng, tài năng quán chúng nhưng thi cử hoài mà không đậu, mãi tới năm 50 tuổi, mới làm được chức tri huyện quèn, mấy năm sau, lãnh chức coi giấy tờ, sổ sách trong một vương phủ, ba năm thì về hưu...

Rõ ràng tác giả Tây Du Ký là con người tài năng mà không gặp thời và không khỏi cay đắng với cuộc đời, bất mãn với số mệnh.

Con khỉ Tề Thiên náo loạn thiên cung, hay chính Ngô Thừa Ân muốn đại náo triều đình nhà Minh cho thỏa lòng bất mãn?

Rõ ràng cái triều đình ở trên Trời đâu có khác gì với cái triều đình nhà Minh ở dưới thế. Có tài như Tôn Ngộ Không mà chỉ phong cho chức Bật Mã Ôn, có khác nào nổi tiếng như Ngô Thừa Ân mà chỉ bổ làm tri huyện? Còn đám văn thần võ tướng, bình thời thì cân đai áo mão rỡ ràng, tới hồi giặc tới thì quan văn chủ hòa như Thái Bạch Kim Tinh, quan võ thì ở không quen rồi, đánh giặc không quen như Tứ Đại Thiên vương, Qui, Xà nhị tướng, Lục Đinh, Lục Giáp v.v...

Còn bọn yêu, quỉ làm hại dân lành, cản đường Tam Tạng là ai? Hầu hết đều là đệ tử, hay những con vật của các Tiên Thánh Thần Phật trên Trời, trốn xuống thế phá hại. Sự kiện nầy làm người ta nhớ tới bọn tay chưn bộ hạ của các quan lớn, dựa vào thần thế của cấp trên mà tác oai tác quái, làm hại dân lành vô tội.

Con đường thỉnh kinh của Tam Tạng gian nan cũng chính là sự gian nan đã trải qua trong lòng của Ngô Thừa Ân, trước khi tìm được sự an bình nhờ Phật pháp.

Con khỉ Tề Thiên, thần thông quảng đại như vậy, nhưng không nhảy qua khỏi bàn tay năm ngón của Phật Tổ Như Lai.

Cuối cùng, khi đã thành chánh quả rồi, Tề Thiên yêu cầu Tam Tạng tháo bỏ cái vòng Kim Cô trên đầu. Tam Tạng đã cười mà bảo rằng “người rờ thử coi, cái vòng Kim Cô có còn không”.

Tề Thiên rờ lên đầu. Quả nhiên, cái vòng oan nghiệt đó đã biến mất.

Triết lý là ở chỗ đó, mà cao siêu cũng là ở chỗ đó. Cái vòng Kim Cô khiến cho mình bị người khác khống chế cả đời, hay bị cuộc sống khống chế cả đời, là ở lòng mình, do chính mình đội lên đầu chớ ai...

Trong lòng ai lại không có một con khỉ Tề Thiên, lại không có một Bát Giái ham ăn ham ngủ ham nhục dục, lại không có một Sa Tăng cần cù, cầu an.

Nếu cái chất Tam Tạng trong mỗi người mà không thắng được đám Tề Thiên, Bát Giái, Sa Tăng, thì con người vĩnh viễn sẽ chìm đắm trong biển trầm luân mà thôi...

CHÁNH PHƯƠNG
(Trích từ KỶ YẾU THƯ VIỆN VIỆT NAM 2000)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Dù thực dân phương Bắc, với mưu đồ đồng hóa, đã nghìn năm ra sức xóa bỏ cội nguồn dân tộc Việt bằng cách đốt phá đền đài bi chú, đốt sách sử, tịch thu sách quý đem về nước họ. Đối phó với hành vi nham hiểm ấy, người dân Việt một mặt tồn trữ văn hóa vào văn chương truyền khẩu, một mặt luân lưu ngọc phả tiền nhân một cách kín đáo, can đảm, trường kỳ trong dân gian, sao chép chia nhau gìn vàng giữ ngọc. Giặc càng đốt phá miếu đình, người Việt càng tùy cơ xây dựng lại, nơi nguy nga, nơi nhỏ bé, nhưng nơi nào cũng được tôn kính, sùng bái, thành khẩn khói nhang để tựa lưng vào quá khứ, đi về với lịch sử. Do đó không vong bản.
Sau tang lễ được gia đình tổ chức ở Sacramento hôm 30 tháng 12 năm 2023, lễ tưởng niệm Nhà văn, Nhà báo, Nhà giáo Trần Lam Giang, thành viên sáng lập Thư Việt Việt Nam, diễn ra trong nội bộ và một ít thân hữu, vào Thứ Bảy 13 tháng 1 năm 2024. Lễ tưởng niệm cũng là dịp húy nhật hàng năm của 2 thành viên sáng lập Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng và Nhà văn Nguyễn Đức Lập. Anh chị em trong Thư Viện trang trí chiếc bàn, có phướng tưởng niệm, bát nhang, hoa quả. Trước lúc cử hành lễ tưởng niệm, anh Bùi Đức Uyên, cựu học sinh Chu Văn An, đã mang đến một bó bông hồng và chọn bình đặt bên cạnh bàn thờ trong khi các chị trong Thư Viện đã chuẩn bị một bàn hoa hồng đỏ thẩm để mỗi người đặt quanh di ảnh và bàn thờ của anh Trần Lam Giang...
Dân Việt Nam rất trọng lễ, và trong lễ thì ân nghĩa giữ phần quan trọng. Tổ tiên sinh ra ông bà, ông bà sinh ra cha mẹ, cha mẹ sinh ra mình. Người con hiếu thảo biết ơn nghĩa sinh thành của cha mẹ, và đã hiếu với cha mẹ phải hiếu với ông bà tổ tiên tức là nguồn gốc của mình. Lúc ông bà cha mẹ còn sống, con cháu phải phụng dưỡng, phải tuân theo những lời dạy bảo của các Người, phải lựa ý chiếu chuộng các Người, phải ăn ở sao cho các Người được hài lòng. Khi các Người trăm tuổi, ngoài việc lo ma chay chôn cất, con cháu phải thờ cúng các Người, cũng như thờ cúng tổ tiên về trước. Thờ cúng tổ tiên là lập bàn thờ tại nhà và cúng bái trong những ngày sóc vọng giỗ Tết. Người Việt Nam ngoài tôn giáo của mình thường thờ cúng tổ tiên, kể cả những người theo Thiên chúa giáo…
Quốc Văn Giáo Khoa Thư được Nha Học Chính Đông Pháp xuất bản năm 1935, do 4 tác giả Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận biên soạn. Gồm “Lớp Đồng Ấu”, “Lớp Dự Bị” và “Lớp Sơ Đẳng”. Chân thành cảm tạ Giáo sư Huỳnh Chiếu Đẳng chủ nhân Kho sách Quán Ven Đường cho phép chúng tôi xử dụng bản PDF này.
Quốc Văn Giáo Khoa Thư được Nha Học Chính Đông Pháp xuất bản năm 1935, do 4 tác giả Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận biên soạn. Gồm “Lớp Đồng Ấu”, “Lớp Dự Bị” và “Lớp Sơ Đẳng”. Chân thành cảm tạ Giáo sư Huỳnh Chiếu Đẳng chủ nhân Kho sách Quán Ven Đường cho phép chúng tôi xử dụng bản PDF này.
Về nguồn gốc đôi đũa, người ta chỉ nêu ra giả thuyết hoặc đặt ra truyền thuyết để giải thích nguồn gốc thí dụ như truyền thuyết hoàng đế Hạ Vũ, Khương Tử Nha, Đát Kỷ 1… Nếu khảo sát các vùng văn hóa thì đôi đũa chỉ hiện diện trong vùng văn hóa Viễn Đông (Trung Hoa, Nhật, Triều Tiên, Việt Nam) có nghĩa đôi đũa được phát minh tại đây và có lẽ trên vùng văn minh nông nghiệp của Bách Việt miền Hoa Hạ vào thời Hùng Vương, tại sao? - Vì dân Việt gốc nông nghiệp, trâu bò dùng để cày bừa, thức ăn chính là ngũ cốc, rau cá. Miếng thịt rất hiếm quí nên nếu có thì phải cắt nhỏ xào nấu cho cả nhà ăn vì vậy phải dùng đôi dũa để gắp. - Trái lại, cách ăn bốc vẫn còn tồn tại trong văn minh Ấn Độ và để lại dấu tích tại Trung Hoa trước thời Tần Thủy Hoàng, trong dân du mục chăn nuôi phía bắc Hoa Hạ có ẩm thực chính là bột mì và thịt nên chú trọng đến ăn bốc và dao để cắt xén.
Quốc Văn Giáo Khoa Thư được Nha Học Chính Đông Pháp xuất bản năm 1935, do 4 tác giả Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận biên soạn. Gồm “Lớp Đồng Ấu”, “Lớp Dự Bị” và “Lớp Sơ Đẳng”. Chân thành cảm tạ Giáo sư Huỳnh Chiếu Đẳng chủ nhân Kho sách Quán Ven Đường cho phép chúng tôi xử dụng bản PDF này.
“Đã nói rằng quyển sách này tựa cái bản đồ vẽ cái nền Nho giáo cũ, thì dẫu hay dở thế nào mặc lòng, cốt nhất là phải vẽ cho đúng. Vậy nếu trong sách này chúng tôi thường trích lục những lời nguyên văn của thánh hiền đã ghi chép trong các Kinh, Truyện cùng những điều của tiên nho lưu truyền ở trong các sách vở, đem phiên dịch ra quốc âm cho rõ ràng, để làm minh chứng cho cái học thuyết của Nho giáo. Còn những lời nghị luận, thì chúng tôi vẫn cố giữ thái độ khách quan mà nói, chứ không theo ý riêng mà làm mờ tối mất sự thực. Giản hoặc có điều gì không được chính đáng, ấy cũng là xuất ư ý ngoại, xin độc giả thể tình mà dung thứ cho. Trước khi đem xuất bản quyển sách này, chúng tôi xin có lời cảm tạ hai ông bạn là ông Phó bảng Bùi Kỷ và ông Cử Trần Lê Nhân đã giúp đỡ chúng tôi trong khi khảo cứu, thường gặp những chỗ khó hiểu, cùng nhau bàn bạc được rõ hết mọi ý nghĩa. Làm quyển sách này, bản ý của chúng tôi là mong bày tỏ được cái đạo của thánh hiền ra…”
Số là sau khi cuốn “Nho Giáo” thứ nhất xuất bản được một hai tháng chi đó, tôi liền được đọc những lời giới thiệu của ông Phan Khôi đăng trong “Phụ Nữ Tân Văn”. Ngoài việc bắt bẻ lặt vặt những chữ “Lương trì”, “Trực giác” “Vô cực”, “Thái cực cho có chuyện, ông Khôi hết sức xưng tụng công trình của “Nho giáo” và khuyên những người An Nam đều phải thắp hương mà đọc. Tuy rằng sau đó vì bài giới thiệu ấy mà giữa ông Khôi và ông Trần Trọng Kim đã xảy ra một trận bút chiến, kéo dài ba, bốn kỳ báo, nhưng nó cũng chĩ nội trong phạm vi mấy chữ trên kia, chứ không lan ra chỗ khác. Tôi vốn tin sự phê bình của ông Khôi cho nên tôi cũng tin luôn “Nho giáo” là sách hoàn toàn, tuy chưa đọc sách ấy…
Những sách Giáo khoa do nhiều tác giả biên soạn theo đúng chương trình giáo dục của Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa này được đồng bào tị nạn Việt Nam mang theo sau biến cố tan nhà nát cửa mất cả giang sơn 30 tháng 4 năm 1975 và tặng cho Thư Viện Việt Nam Little Saigon cất giữ. Ngoài số sá ch này, trang lovelittlesaigon.org của Thư Viện Việt Nam còn xử dụng các bản quét (scan) của Giáo sư HUỲNH CHIẾU ĐẲNG, chủ quán SÁCH VEN ĐƯỜNG và một số nguồn cùng mục tiêu khác. Chúng tôi vẫn tiếp tục nhận sách của Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa để đưa lên website phổ biến và lưu giữ.
VHV FOUNDATION - THƯ VIỆN VIỆT NAM
VIETNAMESE CULTURAL CENTER

10872 Westminster Avenue, Suites 214 & 215, Garden Grove, California 92843
E-mail: info@lovelittlesaigon.org