BÀI MỚI NHẤT
11 Tháng Tư 2026(Xem: 455)
Nội dung bắt đầu từ những ngày cuối tháng Tư năm 1975 đến năm 2000. Tác giả tìm hiểu tâm tư âu lo và sinh hoạt của người Việt tỵ nạn thay đổi dồn dập theo thời gian, từ khi sống sót sau biến cố đổi đời lớn lao ở quê hương đến những ngày bỡ ngỡ đặt chân nơi miền đất tạm dung. Dù gặp nhiều khó khăn với ngôn ngữ phong tục xa lạ nơi xứ người, Người Việt tỵ nạn vẫn luôn gắng sức xoay sở tìm cách mưu sinh, nén lòng giấu nỗi buồn tha hương để chấp nhận hòa nhập vào cuộc sống ở quê hương thứ hai. Tác giả tham khảo và trích dẫn thơ văn, nhạc, tranh vẽ của nhiều nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo, nhạc sĩ, họa sĩ, v.v… trong cộng đồng người Việt tỵ nạn được ghi lại trong báo chí, sách vở, bản tin cộng đồng ấn hành tại hải ngoại từ năm 1975 đến năm 2000. Để nhìn lại chặng đường tha hương đi tìm tự do của Người Việt Tỵ Nạn, xin mời đọc bài giới thiệu biên khảo Lịch Sử Người Việt Tỵ Nạn 1975 – 2000 được ấn hành năm thứ 50 xa quê mẹ...
10 Tháng Giêng 2026(Xem: 2884)
“Hà Nội, Người với Phố phường của một thời”, biên khảo mới nhứt của Đỗ Hoàng Ý (tháng 11-2025), nhắc qua “Hà Nội 36 phố phường” và tỉ mỉ giới thiệu: “… một con đường cổ, quả thật rất cổ, không biết đã có tự bao giờ, ít khi được nhắc đến chỉ vì đường này không nằm trong khu 36 phố phường, và hiển nhiên không phải là một phố nghề mà cũng chẳng chuyên buôn bán một mặt hàng thủ công cổ truyền nào. Đấy là đường Quán Thánh.” Tác giả cũng đã dành nhiều trang để giới thiệu các bộ sưu tập ảnh nổi tiếng về Hà Nội xưa. Và càng lý thú hơn nữa khi tác giả đã xử dụng kỹ thuật A.I để biến hình cũ thành hình màu…
01 Tháng Tư 2025(Xem: 3335)
Vào lúc 11 giớ sáng Chủ nhựt 30 tháng 3 năm 2025 phòng sinh hoạt của Thư Viện Việt Nam góc đường Westminster và Euclid đã không còn chỗ trống. Trên 250 quan khách và đồng hương đã đến đây - như thông lệ hàng năm - để nhận 1 cuốn sách bằng tiếng Anh có nội dung độc đáo: Viết về lịch sử hình thành Little Saigon. Cuốn sách dày 310 trang, ghi lại diễn tiến từ 1975 đến 2024 tất cả những sinh hoạt liên quan đến sự hình thành của Little Saigon. Tác giả là 2 nhà báo sống tại Little Saigon ngay từ lúc khởi đầu, đã sưu tập tài liệu và nhất là hình ảnh để đưa vào tác phẩm. Trong buổi ra mắt sách, tác giả công phu mời các nhân vật làm business hay sinh hoạt tại Little Saigon từ lúc khởi đầu đền trực tiếp nói chuyện với quan khách...
25 Tháng Ba 2025(Xem: 3193)
Nạn đói năm Ất Dậu 1945 để lại những nỗi đau đớn tột độ cho những người sống sót và ấn tượng kinh hoàng cho những người đã chứng kiến. Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam lại xảy ra một biến cố thảm thương như thế.Hoàn cảnh và những nguyên nhân nào đã đưa đến nạn đói năm Ất Dậu? Mời độc giả tìm đọc trong bài viết này với nhiều chi tiết gây xúc động mạnh mặc dù sự việc đã xảy ra 80 năm trước đây.
12 Tháng Giêng 2025(Xem: 10852)
In the final days of May, 1975, it was a time of book persecution for the people of South Vietnam. As soon as the Communists seized Saigon, they hastily ordered the confiscation of all South Vietnamese books and newspapers, which they labeled as "decadent and reactionary culture."
12 Tháng Hai 2024(Xem: 3500)
Những sách Giáo khoa do nhiều tác giả biên soạn theo đúng chương trình giáo dục của Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa này được đồng bào tị nạn Việt Nam mang theo sau biến cố tan nhà nát cửa mất cả giang sơn 30 tháng 4 năm 1975 và tặng cho Thư Viện Việt Nam Little Saigon cất giữ. Ngoài số sá ch này, trang lovelittlesaigon.org của Thư Viện Việt Nam còn xử dụng các bản quét (scan) của Giáo sư HUỲNH CHIẾU ĐẲNG, chủ quán SÁCH VEN ĐƯỜNG và một số nguồn cùng mục tiêu khác. Chúng tôi vẫn tiếp tục nhận sách của Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa để đưa lên website phổ biến và lưu giữ.
18 Tháng Giêng 2024(Xem: 4702)
Đài VNATV thực hiện 2 videos về buổi lễ tưởng niệm Nhà văn, Nhà báo, Nhà giáo Trần Lam Giang tại Phòng Sinh Hoạt Thư Viện Việt Nam Little Saigon (Vietnamese Cultural Center - VHV Foundation), 10872 Westminster Avenue, Suites 214 & 215, Garden Grove, California 92843. Tổ chức trong nội bộ và một số bạn học cùng thời với người quá cố.
12 Tháng Giêng 2024(Xem: 3054)
Trong cuộc nội chiến, hai kẻ địch văn hóa là : - Văn hóa cổ truyền hay văn hóa Sài Gòn thì mọi người dân Việt ở hải ngoại hay quốc nội đều hay biết vì hiện đang sống với , - Văn hóa XHCN thì ở miền Nam ít người biết đến vì 2 lý do sau : 1) Cuộc sống ngắn ngủi 10 năm (1975-1986) của văn hóa XHCN tại miền Nam, 2) Hầu như không có tác giả nào cả quốc gia lẫn cộng sản viết về văn hóa XHCN và cuộc nội chiến văn hóa Bắc Nam. Đó là lý do chúng tôi dành phần 1 và phần 2 cho văn hóa XHCN và phần 3 cho cuộc nội chiến văn hóa.
12 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 3620)
Tác giả ghi trong phần « Tự Luận về Bản In tại hải ngoại » : « Ba mươi năm chiến tranh (1945-1975), một cuộc chiến mà người Việt hầu như đóng vai « được mướn » để đánh lẫn nhau, là ba mươi năm tàn phá triệt để như thể một cuộc đổi đời. Ba mươi năm chiến tranh đã qua. Hơn mười năm cuồng say chiến thắng kéo theo hận thù, tù đày, cũng đã qua. « Thua » hay « Thắng » thì cả hai đều tỉnh giấc trước điêu tàn của đất nước. Một thời kỳ đại loạn chưa từng thấy trong lịch sử của dân tộc Việt. Đại loan cho đời sống vật chất. Vô cùng quan trọng nữa là đại loạn cho nếp sống tinh thần, nền móng của tổ chức xã hội. Hậu quả là trước mắt chúng ta hình ảnh một xã hội bị phân hóa và băng hoại cực độ, khiến cho đại chúng không có được một niềm tin để sống, để hành động trong tinh thần hướng thượng với ý thức giúp vào phúc lợi lâu dài của dân tộc… »
04 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 2403)
Những sách Giáo khoa do nhiều tác giả biên soạn theo đúng chương trình giáo dục của Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa này được đồng bào tị nạn Việt Nam mang theo sau biến cố tan nhà nát cửa mất cả giang sơn 30 tháng 4 năm 1975 và tặng cho Thư Viện Việt Nam Little Saigon cất giữ. Ngoài số sá ch này, trang lovelittlesaigon.org của Thư Viện Việt Nam còn xử dụng các bản quét (scan) của Giáo sư HUỲNH CHIẾU ĐẲNG, chủ quán SÁCH VEN ĐƯỜNG và một số nguồn cùng mục tiêu khác. Chúng tôi vẫn tiếp tục nhận sách của Bộ Quốc Gia Giáo Dục Việt Nam Cộng Hòa để đưa lên website phổ biến và lưu giữ.

CHỮ NGHĨA MÌNH

09 Tháng Hai 20249:12 SA(Xem: 7649)
pic anh danh
Anh Bùi Đắc Danh tại Thư Viện những ngày đầu
(cuối năm 1999)


CHỮ NGHĨA MÌNH
(Viết từ cảm xúc khi đọc hàng chữ: “Có phải chú là lính mình không?)


GIỚI THIỆU: 

Sau buổi khai trương Thư Viện, anh Bùi Đắc Danh tình nguyện phụ việc chăm sóc sách vở cùng nhóm anh chị em sáng lập và đông đảo các bạn trẻ đã miệt mài nhiều tháng trời để đóng kệ sách, tủ, sơn quét dọn dẹp để có được một nơi “gọi là thư viện”. “Nơi gọi là” chỉ vỏn vẹn vài trăm sq.ft. đi mươi bước là đụng tường. Gọi cái đó là… thư viện là chẳng đặng đừng. Là một Đốc sự tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh, anh Danh làm tất cả mọi thứ mà anh thấy anh “gai mắt” phải làm “ngó cho được”. Thế là anh bỏ tiền túi mua sắm búa, mỏ lết, trục vít, cưa, dây điện, bóng đèn… hùm bà lằng để rị mọ làm từ sáng đến chiều… Phải nói là anh Danh là người bỏ nhiều giờ nhất cho Thư Viện suốt 25 năm qua. Ban sáng lập từng nói trước mỗi lần cắt bánh sinh nhựt, “không có anh Danh thì Thư Viện không được như thế này”. Ngay từ đầu Thư Viện không đặt nặng hình thức bề ngoài, không ai có “chức danh” gì cả. Chẳng có ai là giám đốc, giám xúi, cũng chẳng có ai là quản thủ thư viện. Nhưng vai trò của anh Danh vừa bao hàm cả vai trò giám đốc điều hành, vừa là quản thủ thư viện. Khi Thư Viện hết tiền không còn trả lương nổi cho người điều hành, anh Danh làm thay (và chưa giờ có thù lao). Việc mở và đóng cửa, nhất là trong mùa đại dịch, cũng một tay anh Danh. Nhưng điều đáng nói là, anh chưa bao giờ làm phật lòng bất cứ ai đến với Thư Viện, từ độc giả, thân hữu và anh chị anh trong nhóm..

Thư Viện sắp bước qua năm thứ hai mươi lăm. Anh Bùi Đắc Danh đã cùng anh chị em trong nhóm đã kiên trì không biết mệt. Nhưng nhiều người đã không thể cưỡng được với định luật tự nhiên. Nhiều anh đã đi thật xa. Vài anh đã xuống dần sức lực, đi đứng chậm lại. Vài anh cần tới cây gậy ba-ton hay phải vịn bàn mới đứng lên được. Người già người yếu. Thư Viện cũng già theo.

Bài viết này của anh Bùi Đắc Danh đã được đăng trong Kỷ yếu Thư Viện Việt Nam năm 2000, sau một năm Thư Viện ra đời. Giờ đây trích đăng lại, Thư Viện đang chuẩn bị bước sang năm thứ 25 – một phần tư thế kỷ.

Mời bạn đọc những gì anh Bùi Đắc Danh ghi lúc ấy.

Admin lovelittlesaigon.org



Sống tha hương nơi xứ người, bà con mình nhận ra nhau qua tiếng nói. Những lúc gặp da vàng, tóc đen... thấy gần gũi sao đó bèn mạnh miệng chào hỏi trước và vui mừng biết bao khi được nghe trả lời bằng tiếng Việt. Tiếng nói sao mà thân thương, đậm tình dân tộc. Nghe tiếng nói ấy như thấy cả khung trời Việt Nam hiện ra trong mông lung với tiếng reo quà bánh, tiếng nói chuyện trong tiệm nước, lời hàn huyên trong gia đình, tiếng chửi mắng trong hàng xóm, ... và nghe đâu đó một lời ca tân nhạc, một câu vọng cổ, một điệu hò Huế, một tiếng hát chèo... mà nhà thơ Luân Hoán đã “long lanh lệ trào” khi

“... Nhớ đâu đó giọng cải lương bay vào...”

hay

“... Nghe Hoàng Oanh hát như chim gọi đàn...”

(Ngồi Lê)

Cùng nói, cùng nghe, cùng hiểu, cùng thấm thía... nên đã cùng tìm đến nhau, quần tụ cư ngụ gần nhau. Trong cái đồng cảm đó, dần dần bà con cùng nhận ra nhu cầu chữ nghĩa để ghi dấu lại tiếng nói ruột thịt ấy với bao tâm tư, tình cảm của những mảnh đời phiêu bạt mà lòng vẫn còn vương vấn với quê hương. Từ đó, báo chí sách vở, lớp học Việt ngữ, đài phát thanh, đài truyền hình, phim ảnh, “website”, “internet”... lần lượt xuất hiện. Tất cả những thứ đó đều là chữ nghĩa mình. Một môi trường.

Đâu có phải tới lúc nầy mới có chữ nghĩa mình. Có lâu rồi, thân thuộc với nó lắm rồi. Nhưng cuộc đổi đời 1975 khiến nó cũng phải trôi theo vận nước khi có sự xuất hiện, của một thứ tiếng Việt, chữ Việt mà ai mới biết qua đều cảm thấy lạ. Cũng tiếng Việt, chữ Việt nhưng cách xử dụng từ ngữ khi viết cũng như khi nói rất “mới mẻ” đến nỗi hai người Việt Nam có cùng tổ tiên, lịch sử mà lại không hiểu nhau được.

Trước 1954 chữ nghĩa Việt Nam đâu đến nỗi khó hiểu như vậy giữa ba miền Bắc, Trung, Nam. Sau cái gọi là chiến thắng và chắc nghĩ rằng vùng “được giải phóng” như chỗ trủng khô cằn nên dòng chữ nghĩa mới lạ đã ào ạt, tuôn tràn vào Sàigòn. Đến cùng với lời tuyên truyền là văn nghệ ca hát, phim ảnh, sách vở, báo chí... Trong khi những thứ đó Sàigòn cũng có và cũng bằng chữ nghĩa Việt Nam thì bị cấm đoán, tịch thu, hủy diệt vì bị kết án là nọc độc, “tàn dư Mỹ Ngụy”. Thôi thì ráng chịu mà “nuốt” cái mới. Khổ một nỗi là đã cố gắng nhiều mà vẫn “nuốt” không vô, mặc dù được cho biết, riêng về báo chí, có đến mấy trăm tờ đủ loại, nhưng tiếc thay chỉ có cùng một nội dung với cái giọng điệu huênh hoang, không tưởng, cứng nhắc.

Không những người trong nước có cái khắc khoải nhớ nhung chữ nghĩa mình mà người Việt hải ngoại đã thấy “đói chữ” khi rời khỏi quê nhà. Bị dằn vặt bởi nỗi nhớ đất nước, ông bà, họ đã cố moi trong đống hành lý mang theo có cái gì Việt Nam còn lại không. Có, có tiếng nói Việt Nam... và... phải rồi... chữ nghĩa Việt Nam mình nữa. Cho nên ngay từ khi còn đứng trên vùng đất xa lạ, nhóm người Việt 1975 đã tìm đến nhau và cho “hồi sinh” chữ nghĩa mình nơi hải ngoại. Một thứ lai lịch. Rồi nó được củng cố và đượm phần sinh động qua lớp người vượt biên vượt biển cũng như thêm phần phong phú khi có những đợt di dân định cư (1).

Tinh thần của họ được hoàn hồn dần vì ở đây ta gặp lại ta qua chữ nghĩa mình. Với sự bắt đầu và được tiếp nối, chữ nghĩa mình đã được ghi khắc lại, truyền bá, phổ biến bằng đủ loại hình thức và phương tiện trong ý thức bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống dân tộc đích thực. Một thể hiện chính nghĩa. Những ai còn nhớ ngày ở trại tị nạn, vớ được cuốn tạp chí Việt ngữ nào xuất bản tại hải ngoại là cứ miệt mài, nâng niu như tìm lại được báu vật đã bị đánh mất hay lãng mạn như gặp lại người tình chung thủy đi xa trở về với cái bồi hồi mê đắm của thứ “tân thú bất như viễn qui” vậy. Biết bao lời diễn tả sự quý trọng, cái bâng khuâng, cái vui sướng, cái “đã” khi gặp lại chữ nghĩa thân thuộc ngày nào. Cám ơn chữ nghĩa đã làm cho người như sống lại và sẽ giữ gìn con người trong mai hậu. Ngoài ra, chữ nghĩa mình ở hải ngoại còn mang tính đấu tranh phản kháng lại sự độc tài của nhà cầm quyền cộng sản trong nước, nơi phát xuất thứ chữ nghĩa mới lạ được dùng để tuyên truyền lệch lạc ý thức dân tộc và lịch sử. Theo đó, chữ nghĩa phản kháng hiện hữu như một bài học cảnh giác đồng thời giải bày cho con cháu lý do vì sao ông bà, cha mẹ đã phải đem chúng rời khỏi cội nguồn quê hương yêu dấu và hình thành tại hải ngoại một cộng đồng Việt Nam Tị Nạn Cộng Sản.

Cùng với thời gian và thử thách, chữ nghĩa mình làm nhiệm vụ trên trong điều kiện và hoàn cảnh như thế nào?

Trước hết, không như phía bên kia với sự yểm trợ và lãnh đạo hùng mạnh từ nhân lực đến tiền tài, chữ nghĩa mình “ra trận” chỉ với ý thức trách nhiệm và tấm lòng của công dân đối với đất nước và dân tộc. Một thứ “châu chấu đá xe”. Mặt khác vì đặc trưng phản kháng nên phía bên kia luôn muốn khống chế chữ nghĩa mình.

Với cái thế “lấy thịt đè người” họ dùng mọi thủ đoạn từ tuyên truyền xảo quyệt đến thóa mạ, lèo lái cùng với tà thuật lũng đoạn, lôi kéo, mua chuộc, giăng bẫy những ai yếu lòng đang tâm làm bồi bút quảng cáo cho chữ nghĩa mới của họ hòng khỏa lấp, bịt miệng, vô hiệu hóa chữ nghĩa mình. Sau nữa, giới thưởng lãm chữ nghĩa mình ngày càng ít đi trong “... cái cõi ngày càng hụt người...” và nó mang thân phận của “... cái thứ chữ sẽ thành tử ngữ sau một hai đời lưu vong... cũng như nó đang đi vào...” con đường đã tuyệt lộ rành rành... vì “... giao lưu văn hóa một chiều...” (2)

Bi kịch như vậy nhưng chữ nghĩa mình vẫn cứ lãng mạn, hào hùng và kiên cường tồn tại vì chính nghĩa cùng với ước vọng tìm một chỗ đứng đàng hoàng cho Việt Nam trong thế giới văn minh. Hành trình còn dài, nhiều thế hệ sẽ tiếp nối và chữ nghĩa mình vẫn mang sứ mạng của thứ chính tích hùng hồn và là một kim chỉ nam đáng tin cậy. Có thể một ngày nào đó, con cháu Việt Nam trong và ngoài nước sẽ phải tìm đến “tàng kinh các”, như một Thư Viện Việt Nam nối dài sau 1975 hay một văn khố lưu vong mà không có chánh phủ nào trả tiền công nhưng vẫn cứ cặm cụi sưu tầm, thu thập, bảo tồn, phổ biến một thứ chữ nghĩa Việt Nam mà không cần phải tranh luận gì hết vì tính tự nhiên, nguyên thủy trung thực, trong sáng, hiền hòa và tử tế của nó. Đó là chữ nghĩa mình, một báu vật, tinh thần được bà con mình cùng góp công sức giữ gìn từ bấy lâu nay.

BÙI ĐẮC DANH
(Trích trong Kỷ yếu Thư Viện Việt Nam năm 2000)


CHÚ THÍCH:

(1)   Chuyện dài “Ngắn Cổ Khó Kêu” của Nguyễn Đức Lập, nhà xuất bản Hoa Gấm, Hoa kỳ, 1989.

(2) “Viết như niềm ái ngại”, Cao Vị Khanh, diễn đàn báo Người Việt, ngày 31 – 05 – 2005, phát hành tại California, Hoa kỳ.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
GIỌT LỆ THU, gom thơ đăng báo của nữ sĩ Tương Phố, xuất bản năm 1952. Vào đầu thiên niên kỷ 21 (năm 2000), bào muội của nữ sĩ tên là cụ Yến (thường được nữ sĩ âu yếm gọi là Kim-Yến: gộp chung tên em rễ Phạm Hoàng Kim và tên em gái Yến) nhờ chồng mang những cuốn sách quý (đa số là thơ) đến tặng Thư Viện Việt Nam tại Little Saigon (California, Hoa Kỳ). Bản Giọt Lệ Thu này được chụp photocopy và đóng keo bằng tay. Người được nữ sĩ Tương Phố đề tặng là Nguyễn Đức Liệu nhưng tập thơ đến Thư Viện Việt Nam từ Cụ Phạm Hoàng Kim. Năm 2024 anh Nguyễn Tín từ New York qua chơi, hướng dẫn anh Du Miên và chị Ngọc Hà cách thức quét (scan) đưa sách qua dạng PDF và lên website lovelittlesaigon.org. Chân thành cảm tạ Cụ Bà Phạm Hoàng Kim (Yến) và người (chưa biết tên) bỏ công chụp photocopy rồi đóng gáy bằng tay, đồng thời cám ơn anh Nguyễn Tín New York…
Thư Viện Việt Nam mở cửa phục vụ cộng đồng từ tháng 9 năm 1999. Năm 2000, kỷ niệm một năm thành lập tại trụ sở cũ trên đường First Street. Cũng trong năm này, vào ngày 12 tháng 11 năm 2000 kỷ niệm 70 năm Phong Trào Hướng Đạo thành lập tại Việt Nam. Nhiều Trưởng và các đơn vị đến triển lãm hình ảnh sinh hoạt tại Thư Viện Việt Nam....
Văn và Sử là hai bộ môn liên hệ mật thiết, đặc biệt thơ văn ái quốc và lịch sử không thể tách rời. Muốn có cái nhìn chính xác về giá trị thơ văn tiền bán thế kỷ 20, phải để lòng vào giai đoạn lịch sử đó. Lịch sử hơn bốn nghìn năm bảo chủng và sinh tồn trên giải đất quê hương, trải qua vô vàn khó khăn, đau thương, gian khổ, đủ nói lên truyền thống yêu nước thương nòi của dòng giống Việt...
lovelittlesaigon.org đã đưa MƯA GIÓ SÔNG TƯƠNG với bản PDF của Quán Ven Đường. Trong tủ sách tồn trữ tại Thư Viện Việt Nam có ghi "lý lịch" của tập thơ này như sau: "- Mưa Gió Sông Tương, thơ Tương Phố trong thời gian từ 1915 đến 1949, in năm 1960, bản chính, rất hiếm, do chính hiền muội của thi sĩ Tương Phố là cụ bà Phạm Hoàng Kim tặng. và tập thơ Giọt Lệ Thu có chữ ký của chính nữ sĩ Tương Phố, cũng được hiền muội của thi sĩ là cụ bà Phạm Hoàng Kim chụp phó bản, tặng. Ngày 6 tháng 3 năm 2024, bạn Nguyễn Tín (ông xã Tara Thu) bay từ New York qua để bắt tay lắp đặt máy quét (Scan) và tập thơ Mưa Gió Sông Tương được bạn Nguyễn Tín chăm sóc đưa lên có màu nền từ nguyên bản. Kể từ nay Thư Viện chúng ta sẽ theo sự chỉ dẫn của bạn Nguyễn Tín để đưa các cuốn sách quý lên bằng chính bản PDF của Thư Viện Việt Nam...
Ông Trần Văn Thành lại là đại đệ tử của Đức Phật Thầy Tây An, thuộc phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Ông đã được Đức Phật Thầy trao cho một cây cờ, một cái ấn và một tấm áo màu dà, để dùng trong công cuộc đền nghĩa núi sông. Ông đã kết hôn với bà Nguyễn Thị Thạnh, người ở rạch Sa Nhiên, Sa Đéc. Theo người cố cựu nói lại, vóc người bà rất nhỏ bé, nhưng võ nghệ cao cường, chữ nghĩa cũng rất rành. Vì ông được gọi là Đức Cố Quản, bà cũng được gọi là Đức Bà Cố Quản. Sau khi quân Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên, các quan chức của nhà Nguyễn đã theo lịnh triều đình rút về Bình Thuận và Huế để chờ nhận chức vụ khác. Ông ở lại miền Nam, lo tổ chức đánh Pháp, giành lại đất nước.
Tôi cầu cho quý thầy, quý anh, chị làm được. Nếu làm không xong thì các em, các cháu tiếp tục. Nhưng tôi tin rằng thành quả của thư viện nay đã nhìn thấy rồi. Khi cháu Tánh yêu cầu tôi viết cảm nghĩ của tôi về Thư viện, tôi hỏi ra nay thư viện đã có năm sáu chục ngàn cuốn sách, hàng ngàn cổ vật, sưu tầm, kỷ vật quý giá... Đây là tài sản chung của mọi người Việt không phải bây giờ mà còn lưu lại mai sau. Ngoài tài sản cũ sưu tập ấy, thư viện còn viết, in sách, biên khảo giá trị... Quả thật quý vị làm được những việc ý nghĩa quá chừng. Tôi tự nguyện là một thành phần của thư viện, mãi mãi....
Trọn bộ Tạp chí PHỔ THÔNG của Nhà báo Nguyễn Vỹ từ số 1 ngày 1 tháng 11 năm 1958, đến số 270 ngày 1 tháng 7 năm 1971 được lưu trữ tại Thư viện Đại học Cornell Hoa Kỳ. Ông Võ Phi Hùng đã bỏ công chụp lại từng trang của ngần ấy tờ báo để cống hiến cho chúng ta cùng có dịp đọc một tạp chí có giá trị được mọi người công nhận. Nhân đây, lovelittlesaigon.org giới thiệu và vinh danh các ân nhân có công lớn trong việc phổ biến tạp chí Phổ Thông... LƯU Ý: KHÔNG ĐỌC ĐƯỢC BẰNG CELL, thành thật cáo lỗi.
"Trăm sự đều nhờ tiền. Nhìn về tương lai phát triển ư? Nhờ các anh và đồng bào các giới tiếp tay." Nhà báo Du Miên tâm sự tiếp: "Chúng tôi đa? đi được những bước chập chửng, chúng tôi dự trù qua hết năm thứ ba, thế nào cũng phải tìm một địa điểm rộng hơn và dưới lầu..." Tất cả chúng ta rồi sẽ ra đi (theo ngưoi bạn Trầm Tử Thiêng), nhiều lúc tôi tự hỏi mình có còn để lại gì không? Câu trả lời mà tôi tìm được khi thăm thư viện VN là: "Mình để lại cho các con, em, cháu trẻ vốn liếng văn hóa của cha ông mình". Sinh hoạt thư viện Việt Nam đáp ứng được nhu cầu đó. Nếu quý bạn đọc được những dòng tâm tình này mà muốn để lại gì cho mai sau, hãy mang đến Thư Viện VN 1 cuốn sách Việt Ngữ. Cám ơn quý bạn.
Rồng Tiên chỉ là biểu tượng. Lạc Long Quân có cha mẹ là người, hiển nhiên ngài là một người. Người ấy tài ba đức độ vượt bực, không ai có thể sánh cùng, ví như rồng trong đám mày râu. Bà Âu Cơ con vua Đế Lai, cũng hiển nhiên là người, một người nhan sắc tuyệt trần, nết na phẩm hạnh như tiên trong đám quần thoa. Rồng Tiên trong gốc nguồn lịch sử dân tộc Việt không phải là vật tổ (totem) như cái nhìn sai lạc của một số sử gia Tây phương phát xuất từ những dân tộc có vật tổ.
Để quý bạn biết thêm về quá trình gom góp sách và các loại đồ quý tại Thư Viện Việt Nam, lovelittlesaigon.org tuần tự trích đăng (phải đánh máy lại tốn rất nhiều giờ) những ghi chép của anh chị em sáng lập cùng các thiện nguyện viên và thân hữu (mà nay nhiều người đã bỏ cuộc chơi). Ngoài 2 cuốn Kỷ yếu 2000 và 2001 có nhiều bài và hình ảnh, các bản tin sinh hoạt Thư Viện cũng có những ghi chép, bài viết giá trị. Bài này trích ra từ Kỷ yếu 2000. Bài này không kèm hình. Những đồ quý tại TVVN sẽ được giới thiệu kèm hình ảnh trong một bài khác.
VHV FOUNDATION - THƯ VIỆN VIỆT NAM
VIETNAMESE CULTURAL CENTER

10872 Westminster Avenue, Suites 214 & 215, Garden Grove, California 92843
E-mail: info@lovelittlesaigon.org